Những biến chứng nguy hiểm sau nhồi máu cơ tim

Những biến chứng nguy hiểm sau nhồi máu cơ tim

Dù chúng ta đã có những tiến bộ vượt bậc trong điều trị bệnh lý mạch vành trong vài thập kỉ qua, những con số tử vong do nhồi máu cơ tim vẫn không thuyên giảm. Tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim vẫn tương tự như những năm 1990. Năm 1990, tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành chiếm 28% trong số 50,4 triệu người thì con số này năm 2015 là 30% trong tổng số 57 triệu người. Trong đó 25% người chết trong giai đoạn cấp tính, đa số những tử vong này là do những biến chứng nguy hiểm sau nhồi máu cơ tim gây ra. Các biến chứng này bao gồm rối loạn nhịp, các biến chứng cơ học, các biến chứng huyết khối, các biến chứng do thiếu máu và các biến chứng viêm. 

Hàng triệu người chết vì nhồi máu cơ tim mỗi năm
Hàng triệu người chết vì nhồi máu cơ tim mỗi năm 

Biến chứng rối loạn nhịp tim

Rối loạn nhịp tim là biến chứng thường gặp trong nhồi máu cơ tim. Nó có thể xuất hiện ngay tức thì sau khi nhồi máu hoặc trong trong quá trình nằm viện hoặc thậm chí cả khi bệnh nhân đã xuất viện. Rối loạn nhịp có thể gây tử vong là rối loạn nhịp thất và bloc nhĩ thất. Trong giai đoạn cấp, rung thất xuất hiện khoảng từ 2-4%. Trong đó, ngoại tâm thu thất có thể xuất hiện trên 90% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.
Bloc nhĩ thất xuất hiện khoảng 20% ở những bệnh nhân nhồi máu cơ tim thất phải.Các rối loạn nhịp trên thất xuất hiện khoảng 10% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Những bệnh nhân rung thất xuất hiện ngoài bệnh viện tại nước ta đa phần dẫn đến tử vong. Rung thất xuất hiện trong bệnh viện là tình trạng cấp cứu đặc biệt đòi hỏi phải sốc điện. các bệnh nhân bloc nhĩ thất thường phải đặt máy tạo nhịp tạm thời

Các biến chứng cơ học

  • Suy thất trái và sốc tim

Suy thất trái thường xuất hiện ngày sau nhồi máu cơ tim cấp. Mức độ suy thất trái phụ thuộc nhiều vào mức độ tổn thương cơ tim. Vùng không nhồi máu cơ tim có thể có hiện tượng giảm động, bất động hoặc vận động nghịch thường. Những bệnh nhân lớn tuổi, đái tháo đường, trước đó có nhồi máu cơ tim trước rộng thường có nguy cơ cao sốc tim. Khi bệnh nhân có sốc tim, tỷ lệ tử vong có thể đến 67% trong 30 ngày.Can thiệp động mạch vành qua da hoặc mổ bắc cầu nối động mạch có thể làm cải thiện tiên lượng bệnh nhân sốc tim có thể làm giảm tỷ lệ tử vong từ 80% xuống còn 50%. Can thiệp động mạch sớm đặc biệt trước 6 giờ đầu có thể làm giảm và tránh được tình trạng suy thất trái.

  • Suy thất phải

Suy thất phải nhẹ thường sau nhồi máu cơ tim sau dưới hoặc thành sau với tỷ lệ 40%. Suy thất phải làm tụt huyết áp xuất hiện ở 10% bệnh nhân nhồi máu.

  • Thủng vách liên thất

Thủng vách liên thất xuất hiện 1-2% bệnh nhân nhồi máu cơ tim. Thủng vách liên thất thường xuất hiện ở ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau nhồi máu cơ tim. Nếu không được điều trị, bệnh nhân thủng vách liên thất sẽ tử vong 24% trong  72 giờ đầu và 75% trong 3 tuần. Phẫu thuật bít lỗ thủng liên thất hoặc bít bằng dụng cụ có thể làm giảm tỷ lệ tử vong cho những bệnh nhân này.

Hở van 2 lá là biến chứng nguy hiểm sau nhồi máu cơ tim
Hở van 2 lá là biến chứng nguy hiểm sau nhồi máu cơ tim 

  • Hở hai lá

hở hai lá từ nhẹ đến nặng xuất hiện từ 13-45 % bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Hở hai lá thường xuất hiện từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7. Hở hai lá được thấy trên 7% bệnh nhân sốc tim và góp phần 5% tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân tử vong sau nhồi máu cơ tim cấp. Những bệnh nhân có hở hai lá nhiều do đứt dây chằng có thể cân nhắc phẫu thuật sớm.

  • Rách thành tự do tâm thất

Thường xuất hiện 0.5% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. tỷ lệ tử vong những bệnh nhân này là 20%. Với rách thành tự do tâm thất phải được chuẩn đoán sớm và phẫu thuật cấp cứu để cứu những bệnh nhân này.

  • Giả phình vách thất

Giả phình vách thất là một thể của rách thành tự do tâm thất nhưng một phần rách thành đó đã được bít bởi các tổ chức. 1/3 giả phình này sẽ tiến triển lại thành rách thành tự do,vì vậy những bệnh nhân này bắt buộc phải phẫu thuật để dự phòng đột tử.

  • Phình vách thất

Phình vách thất thường xuất hiện khoảng từ 1-1,5% bệnh nhân nhồi máu cơ tim. Phình vách thất có thể dẫn đến bệnh nhân suy tim và hình thành huyết khối trong tim.

Biến chứng thiếu máu

Biến chứng thiếu máu cơ tim xuất hiện ở những bệnh nhân nhồi máu cơ tim lan rộng, nhồi máu cơ tim tái phát và đau ngực sau nhồi máu.Tỷ lệ này xuất hiện ở 5-10% bệnh nhân ra viện và 25-30% bệnh nhân sau 1 năm nhồi máu cơ tim. Những bệnh nhân có đau ngực sau nhồi máu cơ tim thường có tiên lượng xấu.

Biến chứng huyết khối

Tỷ lệ huyết khối sau nhồi máu cơ tim thường khoảng 2%. Tỷ lệ này thường cao ở những bệnh nhân nhồi máu cơ tim thành trước. Huyết khối hệ thống thường xuất hiện trong 10 ngày sau nhồi máu cơ tim. Các biến chứng huyết khối thường gây ra đột quỵ, tắc mạch chi dưới, tắc  mạch mạc treo và nhồi máu thận.

Viêm màng trong tim

Tỷ lệ viêm màng ngoài tim xuất hiện sớm sau nhồi máu cơ tim cấp khoảng 10%. Tình trạng viêm này thường xuất hiện sau 24-96 giờ sau nhồi máu cơ tim. Hội chứng Dressler hay viêm màng ngoài tim muộn xuất hiện từ tuần thứ 2-8 sau nhồi máu cơ tim có tỷ lệ từ 1-3%. Tình trạng viêm màng ngoài tim xuất hiện dịch bao quanh tim. Một số trường hợp dịch màng tim nhiều có thể cần phải chọc tháo dịch.

Tạp chí Bác sĩ Gia đình